Chào mừng quý vị đến với Website Trường THCS Bá Hiến, Bình Xuyên, Vĩnh Phúc.
Thời gian không gian trong văn học trung đại Việt Nam
Bài tập 1: Phân tích mối quan hệ giữa quan niệm về không gian và thời gian với quan niệm về con người và cái đẹp trong văn học trung đại.
BÀI LÀMThật có lí khi nói rằng: Những nhà thơ lớn xưa nay đều là những nhà thơ của cảm thức về thời gian (1). Khi nhắc đến phương diện thời gian và không gian tức cũng có nghĩa nhắc tới hình thức tồn tại của thế giới và cuộc sống của con người, ta tự hỏi trên đời có vật gì mà không có gì tồn tại ngoài không gian và thời gian. Như một lẽ tự nhiên vô hình, hữu cảm, thời gian và không gian đã được các thi nhân bao đời cảm thức, trở thành nỗi ám ảnh miên man, tụ điểm, giội vào thẳm sâu tâm hồn nhà thơ mà hình thành nên thi tứ. Có khi, nỗi buồn, phảng phất, gieo ngấn lòng người như vệt nước mắt chia li, có khi nỗi buồn cười lên bằng nỗi đau nơi đọng tràn nơi khóe mắt nhòa mờ tê tái, và cũng có khi là âm điệu quặn thắt, tê điếng nghẹn ngào giữa không gian mênh mang, rợn ngợp:
Chia phôi khác cả mối lòng,Người như mây nổi, kẻ trông bóng tà.Gạt hàng lệ lúc lên sông tiễn bước,Trời cao cao man mác nghĩ buồn thay.(Lí Bạch)
Một cuộc chia tay giữa nhà thơ với người bạn chân tình, vỏn vẹn cách chúng ta hơn nghìn năm có lẻ, vậy mà đọc lên tưởng chừng vương vít, quanh quất, đâu đây, đặm chát nỗi nghẹn buồn đau đáu. Có lẽ Tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng, là một bài thơ như vậy:
Cố nhân tây từ Hoàng Hạc lâu,Yên ba giang thượng há Dương Châu.
Chủ thể trữ tình ta nhận thức đang đăm đắm dõi nhìn xa xăm vô vọng về cõi mịt mờ xanh biếc, thuyền người ra đi cứ dần xa dần xa thăm thẳm hòa lẫn vào dòng trường giang xanh tận, nhấn nhá một nỗi niềm rằng tình cảm của thi nhân sâu nặng tựa dòng sông và bao la như bầu trời rộng lớn.
Đó là Đường thi! Thế còn văn học Trung đại Việt Nam?
1. Trước tiên, ta nhận thấy thơ ca trung đại, thơ chữ Hán được hình thành đầu tiên, sau rồi, mới có thơ Nôm theo thể luật Đường. Các thi nhân bao giờ cũng lấy con người làm chủ thể, và bao giờ cũng thế các nhà thơ dường như đều cảm thức, dự cảm, trước thời gian vô tình, trôi đi chóng vánh. Vì một điều dễ hiểu rằng thời gian con người luôn ngắn ngủi (Nhân sinh bách tuế nội-Nguyễn Trãi), trong khi đó, đối lập với nó là thời gian vũ trụ vĩnh hằng bao la bất biến. Nếu nói đến thời gian lịch sử tức là nói tới sự hưng phế đổi thay các triều đại, là sự mở rộng thời gian con người thì cũng có nghĩa thời gian siêu nhiên tiên cảnh là một dạng đặc thù của thời gian vũ trụ theo quan niệm của Đạo giáo. Ở đó, thời gian sinh hoạt với sáng, trưa, chiều, tối, cũng là biểu hiện của thời gian vũ trụ khách quan và thời gian hằng nhật con người.
Điểm nổi bật trong cảm thức thời gian ở thơ ca trung đại đó là vị trí chủ đạo của thời gian thiên nhiên vũ trụ bất biến tĩnh tại. Ta cùng trở lại với bài thơ thiền của Mãn Giác để thấy rõ điều đó:
Xuân khứ bách hoa lạc,Xuân đáo bách hoa khaiSự trục nhãn tiền quá Lão tòng đầu thượng laiMạc vị xuân tàn hoa lạc tậnĐình tiền tạc dạ nhất chi mai.
Nhà thơ Mãn Giác làm bài kệ này trước lúc người qua đời, qua bài tác giả đã cho ta thấy một quan niệm nhân sinh. Theo dòng năm tháng, xuân về đất trời như trẻ lại, nhưng xuân đến rồi lại qua, cái già vô hình mau chóng sẽ ập đến với con người. Mãn Giác tỏ ra không hề tiếc nuối mà như đã dự cảm trước và ngộ ra điều đó, vượt lên trên ảo vọng mong manh muốn trường sinh, tác giả đã coi cái chết là tất yếu, không có gì sự hãi. Hay nói khác đi, trong cái héo tàn vẫn bao hàm sự sống mà hình ảnh nhành mai là biểu tượng sinh động hơn cả. Đó chính là niềm an nhiên lạc quan tự tại. Trên một phương diện khác, thời gian đã trở thành một thế lực nghịch đối với cuộc sống con người đặc biệt là với tuổi trẻ và tình yêu. Trong thơ Hồ Xuân Hương ta thấy, bà là người có ý thức rất sâu rất đậm về duyên tình hơn nữa bà cũng là nhà thơ có ý thức về nữ tính. Do vậy yếu tố thời gian trong thơ biểu hiện càng trở nên sâu đậm. Có lần Hồ Xuân Hương như thách đố thời gian để nở nụ cười chiến thắng: Tài tử giai nhân ai đó tá, / Thân này đâu đã chịu già tom! Bài Tự tình II, cho thấy, chính là nỗi niềm buồn tủi của nhà thơ giữa một đêm khuya lạnh lẽo:
Đêm khuya văng vẳng trống canh dồn, Trơ cái hồng nhan với nước non.Chén rượu hương đưa say lại tỉnh,Vầng trăng bóng xế khuyết chưa tròn.
Ở đây Hồ Xuân Hương đã ngồi nhẫn tàn canh, ngồi một mình trong cô đơn đối diện với vầng trăng lạnh. (2) Cảm thức thời gian buồn tủi len lỏi tràn ngập cả không gian, thấm vào tâm trạng, tạo nên mạch thơ tràn đầy âm hưởng buồn đau. Bên cạnh đó, chúng ta thấy, thời gian trong thơ các nhà nho thường là thời gian tĩnh tại bất biến. Thời gian vũ trụ trước hết được thể hiện ở ngay các nhan đề thơ nói về một thời điểm vãn cảnh, chiêu cảnh, mộ cảnh, dạ vũ, xuân đán, sơ hạ, xuân hàn, thu nhật hiểu thán…các bài thơ, phong cảnh thường miêu tả cảnh sắc trong một thời điểm trong mùa tĩnh tại. Trong Hồng Đức quốc âm thi tập thời gian bốn mùa, năm canh, 12 tháng, đều trở thành đối tượng ngâm vịnh. Trong bài Vịnh canh một, thời gian hóa thành không gian:
Tấp tểnh trời vừa mọc đẩu tinh,Ban khi trống một mới thu canh.Đầu nhà khói tỏa lồng sương bạc,Sườn núi chim gù ẩn lá xanh.
Miêu tả thời gian bằng chính thời gian đó là điều không dễ làm và không mấy người làm. Thời gian vật chất không dễ thấy không dễ cảm bằng không gian vật chất thời gian và không gian luôn gắn liền với nhau. Tác giả đã chọn cách miêu tả thời gian thông qua sự chuyển đổi của không gian. Nhà thơ đã miêu tả sự chuyển biến của cảnh vật trong đêm trên cái nền của âm thanh và sau đó là trên cái nền của hình ảnh và màu sắc.
Mặt khác, thời gian lịch sử trong thơ tương quan với thời gian vũ trụ. Khi nói tới lịch sử là nói tới sự thay thế triều đại, theo quan niệm thời Trung đại, mọi hưng vong thành bại đều thuộc mệnh trời, cho nên thời gian lịch sử gắn liền với thời gian vũ trụ một cách huyền bí. Vũ trụ tuần hoàn cũng cũng kéo theo sự tuần hoàn của lịch sử. Phạm trù thời gian chỉ được xác nhận trong các khoảng cách lớn: kim - cổ, xưa - nay. Các khoảng cách nghìn năm, vạn năm, gợi ra sự bất biến các khoảng thời gian ngắn chưa được chú ý. Thời gian quá khứ được gọi là tiền, thời gian tương lai được gọi là hậu, véc- tơ thời gian hướng về quá khứ theo trật tự không gian. Một yếu tố nữa là trong văn học trung đại, thời gian con người đã được ý thức trước thực tế tuổi tác, thọ yểu và sự bất lực của con người. Thơ ca phần lớn nói cái hữu hạn của đời người sự nhỏ bé của kiếp người. Đọc bài Chiều hôm nhớ nhà của Bà Huyện Thanh Quan, ta có cảm giác tác giả như đang chú ý trước hết đến thời gian. Cách dùng từ chiều trời, đưa chiều lên trên là cách nhấn mạnh trước hết đến thời gian, thời gian được cảm nhận qua tiếng trống dồn gấp gáp, tại thời điểm chiều hôm ấy giội lên trong lòng người bao nỗi niềm thương nhớ.
2. Trong thơ trung đại không gian vũ trụ chiếm vị trí ưu thế. Sự phát triển chậm chạp của lịch sử cũng là cho người ta thiên về cảm nhận tính bất biến của không gian. Mặt khác giao lưu thông thương ít phát triển nên người trung đại chưa có quan niệm về thế giới như là tổng thể các nước. Họ hình dung thế giới là thiên hạ, hình dung quốc gia cũng thiên hạ hoặc hình dung qua mô hình sinh tồn non nước, giang san sơn hà. Như vậy, dù muốn hay không, không gian đã được cảm nhận qua năng lực chiếm lĩnh không gian của người đương thời và mang đậm chất chủ quan.Mô hình không gian một mặt được xây dựng theo cách con người cảm thụ là trung tâm: phủ (cúi), ngưởng (ngẩng), tứ cố (nhìn bốn phía), trước sau, trong ngoài, gần xa; mặt khác, xây dựng theo mô hình chồng chất tầng lớp theo kiểu nghệ thuật vườn ngoài núi có núi, ngoài sân có cảnh. Không gian được hình dung theo thứ bậc trên dưới: thượng giới, trần gian địa phủ. Qui mô không gian có ý nghĩa đặc biệt để biểu hiện sức mạnh tâm hồn. Người xưa nói hùng tâm đại chí, chí lớn gắn với không gian lớn. Không gian có tác dụng giải phóng tầm nhìn. Nhà Nho mượn không gian rộng để nâng cao tinh thần tiến thủ, đạo gia mượn không gian bao la để bộc lộ cảm giác tự do của cá nhân:
Vòng trời đất dọc ngang ngang dọc,Nợ tang bồng vay trả, trả vay. Chí làm trai nam bắc đông tây,Cho phỉ sức vẫy vũng trong bốn bể.(Nguyễn Công Trứ)
Không gian trong thơ là không gian mộng tưởng nó hiện ra trong trạng thái nửa thức nửa ngủ, nửa thực nửa hư. Không gian vũ trụ là đặc trưng cảm nhận thế giới của người trung đại, nhưng không gian trong thơ lại gắn với thế giới lí tưởng thế giới thoát tục. Trong thơ thiền ta bắt gặp những ước mơ lên cao mang ý vị siêu thoát :
Hữu thì trực thượng cô phong đỉnh,Trường khiếu nhất thanh hàn thái hư.(Không Lộ thiền sư)
Đôi khi, ấn tượng không gian còn được cảm nhận qua hình tượng và âm thanh. Trong bài Chiều hôm nhứ nhà, hai từ bảng lảng diễn tả bóng hoàng hôn lờ mờ chập chờn không rõ nét, ánh nắng nhạt dần nhưng chưa tắt hẳn tạo nên những khoảng sáng tối đan xen, để diễn tả một nỗi nhớ vừa cụ thể vừa mơ hồ không xác định.
3. Con người trong văn học trung đại mang dấu ấn đẳng cấp, dấu ấn của hệ tư tưởng tôn giáo, của sáng tác dân gian. Do ảnh hưởng của mô hình vũ trụ thiên- địa- nhân, hoặc quan niệm thiên nhân tương cảm từ cổ tới xưa, người trung đại thường quan niệm con người là một cá thể vũ trụ, mang dấu ấn của vũ trụ thiên nhiên. Tính chất đó được thể hiện qua việc miêu tả con người chung đúc khí sắc đất nước được hình dung qua các hiện tượng thiên nhiên tươi đẹp như: mây, núi, trăng, ngọc, tuyết, mai, lan, tùng, cúc:- Hoa thua nước tóc, tuyết nhường màu da.
- Thiên nhiên sẵn đúc dày dày,- Càng tươi tắn nét, càng say sưa tình.
Chẳng hạn khi miêu tả nhân vật làm một bài thơ trong truyện Kiều:
Tay tiên gió táp mây mưa sa, khi khóc người yêu thì: Vật mình vẫy gió tuôn mưa. Bên cạnh đó, con người trong cái chung ít thể hiện cá tính, con người đặt trong mối quan hệ gia nhập với cá nhân. Khuôn đúc cá tính con người trong cộng đồng, đề cao tinh thần hi sinh vì cộng đồng, trách nhiệm với cộng đồng. Mọi hành động cử chỉ của con người đều gợi một qui mô vũ trụ: tung hoành ngang dọc, chọc trời quấy nước, vẫy vùng bể khơi. Quan niệm con người ở đây cũng biểu hiện thành hệ thống, không giản đơn là so sánh bề ngoài, mà còn biểu hiện bí ẩn về tính khí. Động cơ của con người cũng có cội nguồn vũ trụ: Trượng phu thoắt đã động lòng bốn phương. Trong văn học trung đại con người còn có nguyên tắc tỏ lòng, nhân vật hành động nói năng nhằm tỏ rõ chí khí của mình. Do đó, sức biểu hiện của chúng thể hiện ở việc làm quá độ khác thường như kiểu: Kiều bán mình chuộc cha, còn Kiều Nguyệt Nga vẽ bức chân dung Lục Vân Tiên đem đeo trên mình để tỏ lòng chung thủy. Theo nguyên tắc đó, khi con người yêu đương làm ốm tương tư, khi nhớ nhung khiến người gầy mòn, khóc than thì ướt đầm vạt áo, buồn rầu thì tóc bạc trắng, con người ngoại hiện hóa thành các biểu tượng khác thường. Đồng thời con người được nhìn trong sự tĩnh tại chứ không phải đặt trong quá trình phát triển.Theo Phan Ngọc, trong Truyện Kiều, Thúy Kiều ngồi một mình thể hiện ở 17 đoạn, Kim Trọng ngồi một mình 7 đoạn, Thúc Sinh ngồi một mình 2 đoạn. Con người trong truyện Kiều cô đơn ngay cả khi họ đối diện với người khác, các nhân vật đều sống với nội tâm của mình, do đó, khi giao tiếp với mọi người họ vẫn tách mình ra, tính cách của họ là sự ghép nối gượng ép giữa sự thích nghi bắt buộc với thực tế đời sống riêng tư của nội tâm.
4. Quan niệm về cái đẹp trong văn học Trung đại, thời hoàng kim thuộc về quá khứ cái đẹp là khuôn mẫu của tiền nhân. Trong bài Chiều hôm nhớ nhà, ta thấy có sự kết hợp giữa bút pháp tượng trưng và bút pháp ước lệ quen thuộc của thơ cổ:Gác mái ngư ông về viễn phố,Gõ sừng mục tử lại cô thôn.
Những từ Hán Việt xuất hiện nhiều trong hai câu thơ thực đã đem đến cho bức tranh cảnh chiều hôm những đường nét thanh nhẹ, chuyển cảnh thực đời người thành bức tranh thủy mặc: Các từ Hán Việt nữ thi sĩ dùng đã đẩy ta vào thế giới muôn đời. Trên đời chỉ có những ông chài, những thôn vắng, những trẻ chăn trẻ chăn trâu, …làm gì có những ngư ông những viễn phố, những mục tử, những cô thôn?.. Bằng cách này Bà Huyện Thanh Quan kéo ta về cõi vĩnh viễn của ý niệm và nỗi u hoài của nhà thơ là nỗi u hoài của cái kiếp người không biết đến tháng năm thời đại. (Phan Ngọc)
Bên cạnh đó, trong văn học trung đại, các tác giả quan niệm thời xưa là lí tưởng không thể nào đạt tới là thế kỉ vàng của nhân loại, tầm mắt không nhìn vào tương lai mà ngắm vào quá khứ. Những gì đẹp đẽ, rực rỡ đã thuộc về quá vãng, vì vậy mà đi vào thế giới thơ Bà Huyện Thanh Quan, xuất hiện một cảm quan hoài cổ. Khi mà vào thời điểm tiễn đưa một triều đại vàng son đã từng vang bóng, giờ đây trở thành quá khứ, tạo nên cảm xúc bâng khuâng:
Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo,Nền cũ lâu đài bóng tịch dương.Bài thơ là trở thành một niềm hoài vọng, về một triều đại vàng son cùng lịch sử, cùng đế đô Thăng Long xưa cũ, giờ đây đã trở thành quá vãng. Câu kết trong bài cũng như câu mở đầu là cảm hứng đau đớn xót xa trước cảnh đời dâu bể. Cảnh đấy là cảnh quá khứ, phồn hoa huy hoàng lưu dấu tích trong hiện tại, người đây, là người trong hiện tại nặng lòng với quá khứ. Câu thơ nói về nỗi đoạn trường ngắt nhịp cắt rời ra từng khúc: Cảnh đấy/ người đây/ luống đoạn trường.Để thiên về cái đẹp cao cả, tao nhã, các nhà thơ thường hòa nhập cuộc sống của mình với thiên nhiên. Vì vậy vẻ đẹp thiên nhiên không chỉ đơn sơ mộc mạc, dân dã mà còn trở nên tao nhã, mộc mạc. Bốn câu thơ trong bài Thuật hứng 24 thuộc những câu thơ Nôm hay nhất, đẹp nhất viết về thiên nhiên:
Ao cạn vớt bèo cấy muống,Đìa thanh phát cỏ ương senKho thu phong nguyệt đầy qua nócThuyền chở yên hà nặng vạy then.
Khổ thơ đã cho thấy hình ảnh chân thực của đời sống, bên cạnh những hình ảnh nôm na thô tháp là những hình ảnh thanh thoát, thanh tao: nước trong xanh, sen mới ương mà đã như lan tỏa mùi hương thanh quí. Trong từng chữ từng câu thơ đều có sự hài hòa mộc mạc, tự nhiên mà thanh thoát, tao nhã, tất cả đều đậm đà phong vị dân tộc. Các tài năng lớn xưa nay bao giờ cũng tạo ra được sự hài hòa giữa những đối cực sự hài hòa giữa truyền thống và cách tân.
5. Tóm lại, văn học trung đại là một giai đoạn lớn trong lịch sử văn học dân tộc và nhân loại. Đồng thời cũng là một trong ba phạm trù lớn của văn học, bên cạnh văn học cổ đại và văn học cận hiện đại. Do đó, vấn đề thi pháp văn học trung đại trên các quan niệm không gian, thời gian, con người, cái đẹp, không chỉ có ý nghĩa để hiểu sâu thêm văn học trung đại mà còn gián tiếp làm sáng tỏ đặc điểm văn học cổ đại và văn học hiện đại trong thế đối sánh cũng như nguồn mạch tiếp nối sự phát triển văn học Việt Nam./.
Tài liệu tham khảo:
Ngô Quý Dương @ 10:11 13/11/2009
Số lượt xem: 16005
- Hiện tượng không thống nhất trong việc cắt nghĩa 1 số tác phẩm văn chương ở nhà trường PT (27/08/09)
- Cần hiểu đúng cụm từ "đế cư" trong văn bản của Lý Thường Kiệt (26/08/09)
- Nen hiểu đúng bài thơ 73 của Nguyễn Bỉnh Khiêm (26/08/09)
- chia sẻ kinh nghiệm học tập (05/06/09)
- trang Web thi trực tuyến cực hay! các bạn và thầy cô vào thử xem (01/06/09)



Các ý kiến mới nhất