Sản phẩm mới

Học Internet Marketing

Tham Gia Affiliate Với

Tài nguyên dạy học

Hỗ trợ trực tuyến

  • (Nguyễn Đình Phú)

Điều tra ý kiến

Bạn thấy trang này như thế nào?
Đẹp
Đơn điệu
Bình thường
Ý kiến khác

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    0 khách và 0 thành viên

    Học thiết kế website

    Chào mừng quý vị đến với Website Trường THCS Bá Hiến, Bình Xuyên, Vĩnh Phúc.

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.
    Gốc > ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC > Môn Văn >

    Kiểu điện ảnh trong trường ca Thu Bồn

     


    Đứng về mặt văn học mà nói, kịch bản điện ảnh nổi lên hai đặc trưng chủ yếu tạo nên “phong cách kịch bản”, đó là: kịch bản chủ yếu thuộc về nghệ thuật nghe nhìn và bao giờ cũng diễn ra ở thì hiện tại. Nếu “các loại hình văn học khác chủ yếu viết ra để được đọc” thì “ngược lại, kịch bản được viết ra chỉ nhằm để được nhìn và được nghe mà thôi. Chính vì vậy mà trong kịch bản ta chỉ nên nói đến hình ảnh và càng tránh càng tốt tất cả những gì thuộc về dự định, ý nghĩa; nói chung, là tất cả những gì không có tính chất “nghe nhìn”(6). Từ những kiến thức điện ảnh cơ bản trên, ta có thể dễ nhận ra trong bảy trường ca còn lại của Thu Bồn, nổi rõ lên hai trường ca được anh chú tâm cấu trúc theo mô hình loại “nghệ thuật thứ bảy” này. Đó là trường ca Ba dan khátOran 76 ngọn

    Ba dan khát cấu trúc gồm 9 phần như một kịch bản phim tập trung vào ba cảnh chính: Tây Nguyên thời quá khứ, Tây Nguyên thời chiến và Tây Nguyên thời bình. Để nổi bật lên ba cảnh chính, trong 9 phần được chia theo tiêu đề của trường ca, ngòi bút của nhà thơ cứ “lia” như ống kính lia đi rất nhanh theo cảnh, lúc toàn cảnh (viễn cảnh), lúc trung cảnh và lúc cận cảnh. Phần mở đầu (không có nhan đề) là toàn cảnh Tây Nguyên được mở đầu y hệt cách mở đầu của một kịch bản điện ảnh thực thụ (tất nhiên, đây là một trường ca viết bằng thơ cho nên không thể không có những đoạn cảm xúc của thơ): “phía Tây/ ngọn Chưgiangxin/ nơi ngọn núi vói trời/ khoảng cách ấy tưởng đưa tay là níu được/ đỉnh Ngọc Linh những cánh chim ngang ngược/... lại tìm về/ những nhà rông như những lưỡi rìu/ những cây nêu trụ cờ mới mọc/ những mái nhà lợp vội/ cửa ngõ còn để ngỏ tới tương lai/ không liếp vách chẳng then cài”... Cứ thế, “ống kính thơ” lia đi theo một tư duy thơ rất nhanh của lối chuyển cảnh điện ảnh. Sau cú “lia” toàn cảnh, “ống kính thơ” dồn dần về trung cảnh: “những đám cỏ tranh/ còn bom mìn rắn rết/ những cây già nua mỏi mệt/ mỗi lần buông tay/ làm nát cả khúc đường/ những gỗ hèn ôm chặt những dây vươn/ nơi tử thủ của những loài chồn cáo”... Sau khi thể hiện toàn cảnh Tây Nguyên sau chiến tranh, tác giả tập trung để “quay” cận cảnh chân dung nhân vật chính để chuyển qua phần hai, có tên “Vị tướng”. Đó là “cây trắc bách/ tôi đã gặp trên đường/ chân lội suối/ gậy cầm tay chỉ lối/ ông đi về những hốc núi âm u”... “Vị tướng” đang cùng toàn quân khai hoang vùng đất mới, bỗng “ống kính thơ” lia về hồi tưởng quá khứ chiến tranh: “trận mùa khô đánh Mỹ/ quân ta thiếu cơm thiếu súng thiếu cả người/ vị tướng đến tay cầm chiếc cọc/ bằng gỗ rừng đẽo gọt tinh tươm”. Tiếp theo là lời thoại của “vị tướng” trước đoàn quân: “- Hỡi chiến sĩ/ hãy lấy cây rừng thay chiếc xẻng tấn công”. Rời “vị tướng”, “ống kính thơ” tiếp tục lia về phía quần chúng: “bao cô gái đang ngồi nói chuyện râm ran/ những cô gái Thái Bình Xêđăng Xêtrá/ một cô gái là Hà đương xem thư người yêu gởi/ tờ giấy xanh và mắt cô vời vợi/ bức thư tình của vùng đáy trời xanh”... Đến phần ba, có tên “Taman lửa”, “ống kính thơ” lại quay về hồi ức Tây Nguyên xưa với câu chuyện tình bi tráng đẫm chất sử thi giữa người con gái Giarai (Rơchămpa) và chàng con trai Bana (Kônghơrin) trong mối thù của hai làng và hai dân tộc. Một "cảnh phim thơ" vừa trữ tình lãng mạn, vừa bi tráng. Có thể nói, đây là những thước phim đẹp đậm dấu ấn Tây Nguyên quá khứ: “vách núi càng cao hố càng sâu thẳm/ bên kia bờ thoai thoải chạy dài/ vó ngựa ném lên trời bụi đỏ/ đến bờ sông ngựa đi nước nhỏ/ người ngồi trên lưng ngựa là Kônghơrin/ giọng hát buồn tay nới lỏng dây cương/ con ngựa cúi đầu ngoạm miếng cỏ sương/ ngựa vừa đi vừa nhơi theo điệu hát”. Cảnh phim đang quay lời đối thoại tình yêu giữa đôi trai gái, bỗng lập tức chuyển cảnh: “tiếng tù và bên vách núi bỗng vang lên/ báo hiệu những giáo gươm trong im lặng ngủ quên/ tiếng binh khí chạm nhau/ tiếng chân người thình thịch/ có kẻ thù lẻn sang sông/ lệnh truyền ra truy kích/ kẻ thù là đôi trai gái yêu nhau”... Tiếp theo là săn đuổi hằn thù của tên chủ làng người Giarai. Rơchămpa bị làng bắt khi đã mang thai, và đây là đoạn đối thoại đầy chất điện ảnh:

    “- a! con điên/ tên chủ làng gầm thét/ - thả con chim săn ra cho nó biết/ thế nào là mỏ nhọn chim ưng/ xé trái tim nó ra bằng móng vuốt chim rừng/ và hãy xua bầy chó/ theo vết thằng con trai/

    Rơchampa:/ - khỏi phải mất công/ cứ nhìn máu trên bầu vú ta đã đổ/ các người sẽ thấy Kônghơrin/... 

    chủ làng:/ - Tao sẽ bỏ mày như bỏ con sên/ vào bột thuốc để cho mày cựa quậy/

    Rơchămpa:/ - Nhưng đứa con trong bụng ta sẽ thấy/ mặt trời tàn trên đồng cỏ xanh tươi... Như sợ kéo dài cảnh cũ, trường ca chuyển sang phần bốn cũng rất đột ngột: “Bọn da trắng đến”. Ở phần này, đầu tiên, “ống kính thơ” quay toàn cảnh về sự xuất hiện của “bọn da trắng” ở Tây Nguyên và tội ác của chúng với dân làng. Và dường như để cảnh của phần này nối mạch cùng cảnh trước, Thu Bồn lại nối tiếp bằng câu chuyện tình của Rơchăm cùng với chàng trai Bana tên là Kônghơrú (bạn trai của Rơlăng - con của nàng Rơchămpa ở phần trước đang cùng làm thuê ở đồn điền bọn da trắng). Câu chuyện tình cũng đầy chất bi tráng Tây Nguyên xưa. Lúc miêu tả viễn cảnh, lúc trung cảnh, lúc cận cảnh, cứ thế, trường ca tiến triển nhanh như những thước phim hình. Những câu thơ như được chém ngắn ra để theo cho kịp “ống kính” quay cảnh: “bóng ngựa/ bóng người/ bóng núi lồng lộn/ xuống đồi/ lên đường/ chặn đón/ ngựa sủi bọn mồm/ nai cũng ngã lăn”... Phần bốn khép lại một chuyện tình buồn khi Kônghơrú và Rơchăm bị chủ đồn điền bắt được. Anh đã lao xuống vực sâu còn Rơchăm bị bọn chúng “trói trên lưng ngựa địu về làng”. Phần năm có tên: “Đồn điền và thành phố” cũng được mở đầu bằng toàn cảnh các đồn điền và thành phố mọc lên trên đất Ba dan, sau đó, “ống kính thơ” lia về trung cảnh đồn điền của bá tước Đenphăng. Rồi như sợ mất chất sử thi, ống kính lại lia về quay cận cảnh những chiến tích thời hiện đại của Tây Nguyên với “Kapa Kơlơng/ mười sáu tuổi giết trăm tên giặc/ tiếng bom Ngô Mây và anh hùng Núp”. Cảnh phim quay lại thời bình gồm bốn phần cuối, có tên: “Đi về phương Nam”, “Ông - già - nước”, “Xích đạo” và “Vị tướng”.

    Tương tự như thế, trường ca Oran 76 ngọn cấu trúc gồm 22 phần ngắn. Ngoài phần mở đầu (không có nhan đề) mang tính chất tạo không khí thẩm mỹ cho kịch bản phim và phần cuối Vĩ thanh buồn (được viết sau khi kết thúc trường ca đã gần 10 năm) đậm cảm xúc thơ của một trường ca, 20 phần còn lại với 20 nhan đề cụ thể là 20 cảnh phim ngắn được chuyển rất nhanh theo lối điện ảnh. Các cảnh có thể vừa tiếp nối nhau vừa đứt đoạn theo lối cấu trúc truyện phim hiện đại. Song nhìn trên tổng thể, lôgic câu chuyện vẫn được người đọc, người xem nối kết thành một chuỗi dài về cuộc chiến tranh giải phóng của những người lính Campuchia cùng những tình nguyện quân Việt Nam trong cuộc chiến chống chế độ độc tài Pônpốt. Trong đó, có một vài cảnh, dường như sợ thơ sẽ kéo dài không theo kịp tốc độ điện ảnh, tác giả đã mào đầu bằng nhiều đoạn văn xuôi giải thích. Ví dụ như ở phần 20 Ổ quỷ: “câu chuyện đau lòng nhưng tôi phải kể”... Bên cạnh đó, bàng bạc trong trường ca là những đoạn thơ, câu thơ ngắn gọn chứa đầy hình ảnh của điện ảnh: “chúng tôi đi bằng cả hai tay/ bò qua mắt một binh đoàn địch/ bò qua bãi mìn mo/ bò qua sự dối lừa của muôn cái chết/ bò qua rắn rết/ bò qua cỏ may/ bò qua mồ hôi rách nát hai cùi tay/ bò như thể mình chưa bao giờ đứng dậy/ XôRiLa đã kiệt sức rồi”...

    Sở dĩ Thu Bồn dám dựa vào thủ pháp điện ảnh để cấu trúc trường ca là bởi giữa nó và cái “khoảng trống” của thơ rất gần nhau. “Bước thơ” đầy “khoảng lặng”, “khoảng trắng” của tư duy thơ hiện đại rất phù hợp với bước chuyển hình trong điện ảnh. Vì ta biết, với điện ảnh, trung bình mỗi phút, ống kính có thể lia đi thu được đến khoảng trên dưới 50 hình ảnh. Và như vậy, chỉ có "bước nhảy" kiểu tư duy thơ hiện đại mới đáp ứng được nhịp đi của hình ảnh phim. Cho nên, có thể nói rằng, việc tìm tòi cấu trúc trường ca theo môtip của điện ảnh cũng là sự gặp nhau giữa phong cách thơ Thu Bồn và nghệ thuật điện ảnh.

    Ngô Quý Dương 


    Nhắn tin cho tác giả
    Ngô Quý Dương @ 09:38 06/01/2011
    Số lượt xem: 1457
    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến

    Học Internet Marketing